Bản dịch tiếng Việt của cuốn sách có tựa là “Pro Git” nhằm giúp cộng đồng người Việt tham khảo thuận lợi, không nhằm mục đích thương mại thuộc về tác giả Scott Chacon và Ben Straub. 

NÂNG CAO: NHỮNG COMMAND LINE KHÁC

Trước hết, hãy nhắc lại về IDE. IDE, hay Integrated Development Environment, là một chương trình hỗn hợp các chức năng hỗ trợ lập trình. Trong IDE có lẫn với compiler là cái sẽ chạy dịch và chạy code bạn đã viết. Visual Studio có msvc, Intellij IDEA có javac, eclipse, còn spyder có ipython (thực chất là 

$ git clone https://github.com/libgit2/libgit2 mylibgit

Câu lệnh này cũng đem lại kết quả tương tự, nhưng lần này thư mục mang tên “mylibgit”.
Nói về phần <url>, Git có một số giao thức truyền tải khác nhau. Ở trên chúng ta dùng giao thức https://, mặc dù những giao thức khác như git:// hay user@server:duong/dan/toi/repo.git, bạn cũng có thể bắt gặp. Những trường hợp đó dùng giao thức truyền tải SSH. Một lần nữa, bạn có thể ghé Dùng git trên ổ đĩa chủ (chưa dịch) để biết về các lựa chọn của máy chủ trong việc truy cập Git và điểm yếu, mạnh của từng lựa chọn ấy.

một Interpreter, chạy code liên tục).

Nhưng trong thực tế, không phải phần mềm viết code nào cũng bao gồm một compiler hay interpreter. Những text editor nổi tiếng chạy mượt và được ưa dùng (như Sublime, Atom, Vim) thường không bao gồm một trình phiên dịch nào. Đến một ngày, một trong những dự án của bạn sẽ đòi hỏi những compiler riêng không có sẵn trong một IDE nào. Và nó không chỉ dừng lại ở việc chạy code. Một tệp trên máy tính có thể được tương tác, định dạng qua nhiều cách khác nhau.

Để mở rộng tất những khả năng đó, chúng ta cần dùng những command line. Có nhiều khía cạnh của command line mà ta cần bàn về, nhưng thường được nhắc đến ít nhất song có vai trò không kém trong các dự án là việc đặt biến.

Đặt biến trong hệ thống

Không nhất thiết mọi biến đều phải được đặt trước trong hệ thống, song vẫn có nhiều biến như thế được dùng rải rác trên máy.

Khi dùng bất cứ command line nào, bạn có thể ra lệnh một ứng dụng từ xa. Ví dụ để chạy một tệp tên “foo.py” (code cho python) trong folder, bạn có thể dùng “python ./foo.py”. Vốn vĩ đầu “python” dùng được là vì command line đó đã phát hiện tệp python.exe gốc ở một ngõ nào đó trong máy tính bạn, nhưng thực chất tệp .exe ấy nằm ở đây?

Nhấp phải biểu tượng This PC > Properties > Advanced system settings > Environment Variables… hiện lên hàng loạt các biến chứa thông tin cho các chương trình máy tính.Hình 5. Cửa sổ Environment Variables.

Ví dụ, mình lưu một biến tên CAFFE_ROOT, chứa đường dẫn đến folder “D:\dir2\caffe”.

Như đã khai báo biến, ta có thể gọi biến trong command line:

 

 

 

 

 

 

 

Ở System Variables, kéo xuống thì bạn bắt gặp PATH. Đây là biến mà các command line nhìn vào mà tìm soát tương quan. Nằm ở khúc đầu là đường link dẫn đến folder của python (tạo vào lúc chạy installation), nơi các command line tìm ra được python.exe:

Hình 8. Cửa sổ chỉnh (liệt kê dữ liệu) một environment variable.

Bằng chứng:Hình 9 và 10. Đường dẫn đến thư mục chứa python.exe và đường dẫn tương tự được dùng khi dùng python -h.

Lưu ý rằng ngoài System Variables thì còn có User variables for TEN-CUA-NGUOI-DUNG. Đây là những cài biến tự đặt của user trước khi đến với các biến mặc định của hệ thống. Các command line sẽ kiểm các biến này trước. Để đảm bảo an toàn tránh gây lỗi, hãy chỉnh sửa bên User Variables for TEN-CUA-NGUOI-DUNG trước.

Thêm ví dụ:

+ HOME (C:/User/TEN-CUA-NGUOI-DUNG/): Nơi cài đặt thư viện, phần mềm cá nhân.

+ PATH: Shortcut đến một số chương trình, trong đó có python.exe.

+ PYTHONPATH: Đường dẫn đến thư viện của Python.

Nói chung, như khai báo biến trong code, bạn có thể nhấp vào New và tạo một biến riêng, lưu trữ đường dẫn đến những thư mục quan trọng nào đó hay một số hằng số, câu từ mà bạn thường xuyên dùng. Điều này có thể áp dụng thêm nữa trong việc lập trình với shell nói chung, vốn thường xuyên đòi hỏi nhiều biến ghi nhớ.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *